Tần suất, vị trí và bản chất của việc chèn vectơ AAV sau khi theo dõi lâu dài quá trình phân phối gen chuyển FVIII ở mô hình chó bị bệnh máu khó đông
Điểm nổi bật từ Đại hội ảo ISTH 2020

Tần suất, vị trí và bản chất của việc chèn vectơ AAV sau khi theo dõi lâu dài quá trình phân phối gen chuyển FVIII ở mô hình chó bị bệnh máu khó đông

Paul Batty1, Sylvia Fong2, Matteo Franco3, Irene Gil-Farina3, Aomei Mo1, Lorianne Harpell1, Christine Hough1, David Hurlbut1, Abbey Pender1, Sofia Sardo Infirri1, Andrew Winterborn4, Manfred Schmidt3 và David Lillicrap1

1Khoa Bệnh lý và Y học Phân tử, Đại học Queen, Kingston, Ontario, Canada.

2BioMarin Pharmaceutical, Novato, CA, Hoa Kỳ.

3GeneWerk GmbH, Heidelberg, Đức.

3Dịch vụ Chăm sóc Động vật, Đại học Queen, Kingston, Ontario, Canada.

Điểm dữ liệu chính

Bảng bên trái hiển thị liều lượng, kiểu huyết thanh capsid, mức FVIII và số lượng vị trí tích hợp (IS) cho 8 con chó được đưa vào nghiên cứu. Mười năm sau khi tiêm truyền, mức FVIII ở 2 trong số 8 con vật là <1% và dao động từ 2.9% đến 8.6% ở 6 con còn lại. Các vị trí tích hợp được phân tích bằng 2 phương pháp (giải trình tự làm giàu đích, TES và PCR qua trung gian khuếch đại tuyến tính, LAM-PCR). Biểu đồ bên phải cho thấy sự phân bố tương đối của IS cho mỗi loài động vật.

DNA bộ gen từ 2 vị trí gan của mỗi con vật được phân tích để tích hợp vector-gen. Dạng tích hợp (vector-genome) chiếm 4.6% và dạng phân đoạn (vector-vector) chiếm 95.4% số lượt đọc. Những kết quả này chỉ ra rằng các vectơ biểu hiện duy trì chủ yếu ở dạng từng đợt hơn 10 năm sau khi tiêm truyền.

Bảng này cho thấy 10 vị trí tích hợp phổ biến nhất (nhiễm sắc thể, kích thước, gen và vị trí) dựa trên phương pháp TES. Dựa trên cả hai phương pháp giải trình tự, các vị trí tích hợp phổ biến nhất được tìm thấy gần với KCNIP2, CLIC2, ABCB1 và ​​F8 gen.

NỘI DUNG LIÊN QUAN